Người nhà quê. Phần 2. Anh Chí.

Người nhà quê.

Mình từ bé đã gắn với nông thôn rồi yêu thiên nhiên, con người miền quê. Thấy có ai nói thằng đó nhà quê lắm hay chê người nhà quê thì mình dị ứng lắm. Chẳng phải mình là người thành phố có một nửa là người nhà quê trong máu mà mình nghĩ vậy. Nhiều khi mình nghĩ có ai là dân thành phố 100% đâu. Họ quên mất rằng gốc gác của họ cũng là người ở quê ra.

Thích thì viết, không thích không viết. Viết về họ như để trả ơn họ, những người bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để nuôi dân thành phố, để đóng góp cho thế giới những cây rau, miếng thịt, hạt thóc.
Năm ngoái nhằm đúng vào một ngày nghỉ. Mấy thằng già công chức bọn mình rách việc rủ nhau đi xe đạp về miền quê.
Trên con đường đê giờ đã thành lối xe. Sông Hồng vẫn thế, chỉ có điều là không thấy cảnh ” Bên lở bên bồi ” như ngày xưa mà giờ đây cả hai bên đều lở. Có lẽ do hút cát quá nhiều đã làm cho dòng chảy mất đi quy luật tự nhiên của muôn đời rồi.
Đi mãi, đi mãi đi như vô định, bánh xe đạp đưa bọn mình đến ngôi làng cách đây vừa tròn bốn chục năm mình đã ở. Cảnh vật giờ đây đã thay đổi rất nhiều, nhưng tên làng thì không.
Nói với mấy thằng đi cùng: Ngày Bác mất tao ở trong cái làng này này. Mấy thằng bảo mình: Còn nhớ tên ông bà chủ nhà không? Mình bảo nhớ chứ quên làm sao được. Chẳng hiểu ông chủ nhà còn hay mất, thôi cứ hỏi người làng xem sao đã. Bọn mày chờ tao chút được không. Chúng nó bảo: Được nhanh lên đấy nhé.
Hỏi thăm một hồi, quanh co mãi mình cũng tìm ra cái ngõ nhỏ đó. May quá, nhà ông vẫn ở chỗ cũ và ông chủ nhà vẫn chưa chết.
Đứng ở cổng nhà nói vọng vào trong, mình gọi: Đây có phải là nhà ông Chí không đấy.
Từ trong bếp một ông già lưng còng bước ra. Ông hỏi ai đấy. Mình bào em đây anh có nhận ra em không? Hỏi vậy nhưng mình biết ông cũng chẳng thể nhận ra mình được bởi 40 năm rồi còn gì. Thấy ông nheo nheo mắt không nhận ra, nên mình hỏi lại: Anh còn nhớ hồi chiến tranh có ai sơ tán ở nhà anh không? Ông hỏi lại, mày là thằng Hòa hay thằng Đông đấy.
Kinh khiếp, ngần ấy năm trời mà ông vẫn nhớ đến tên mình và thằng em mình.
Ngồi nói chuyện với ông, mình cùng mấy thằng bạn còn kinh khiếp hơn khi ông hỏi thăm từng người trong nhà mình chẳng thiếu một ai. Nghe tin cậu mợ mình đã khuất núi được mấy chục năm ông tỏ vẻ ân hận là không biết tin ông bà giáo đã qua đời..

*
**

Năm 1969. Cậu mình đang là Hiệu trưởng một trường phổ thông thì được phân công về Phòng giáo dục huyện. Thế là mình cùng anh Quang về đó cùng ở với cụ. Ba người đàn ông đi sơ tán ở cùng nhau, lại ở cùng bố con cụ Hưng, tổng cộng là 5 người đàn ông trong một ngôi nhà. Thiếu bàn tay người phụ nữ thì cuộc sống vốn đã khó khăn lại chồng chất khó khăn. Là giáo viên, quen sống làm gương cho học sinh nên cậu mình luôn thu mình để giữ gìn thanh danh. Ông thường răn dạy con cái dù có đói khổ cũng không được điều gì tổn hại đến danh dự người giáo viên của cậu. Sau này mình lớn thì hiểu hiểu ra được nguyên nhân dẫn đến câu răn dạy các con như thế. Có lẽ cậu mình nghĩ con mình không dạy nổi thì đừng nói đến chuyện dạy con người.
Hồi đó sao mà đói bền bỉ thế không biết. Đói dài, đói triền miên, đói từ ngày này sang ngày khác. Cả đất nước mình hồi đó nó thế chứ không riêng gì nhà mình. Cái đói này chưa dứt, cái đói khác đã lại ập đến ngay sau bữa cơm chiều. Mở mắt ra là đói, cái đói kéo dài mãi đến tận khuya, đến cái lúc kéo chăn lên cằm để đi ngủ, cái đói vẫn dai dẳng đeo bám. Nửa đêm tỉnh dậy là đã thấy đói rồi. Mình nói : Cái đói giống như sóng biển, cơn đói này gối lên cơn đói kia. Anh Quang nghe thấy mình nói như thế thì khen mình bé mà đã biết ví von. Anh tuy ít tuổi nhưng đã nghĩ ra một khẩu hiệu rất phù hợp với tình hình đói kém lúc đó: “Hạn chế vận động, hạn chế nói cười để bảo toàn Calo”.
Nói chung là như vậy thôi, nhưng thỉnh thoảng mẹ mình lại dành dụm được một ít tiền rồi mua thịt, mua cá làm cho chồng con vài bữa ăn thịnh soạn đã đời.
Gạo tiếp tế từ Hà nội về luôn bị đứt đoạn. Kho còn gạo thì cửa hàng mới có bán cho cán bộ và nhân dân có tem gạo, có sổ Lương thực. Còn khi gạo chưa về thì cứ chờ, cứ đợi. Phải vay chủ nhà, vay hàng xóm để ăn tạm trong những ngày chờ tiếp tế từ mẹ mình hoặc chờ cửa hàng có gạo thôi vậy.
Người nông dân hồi đó đâu có khá khẩm hơn gì. Một ngày công cuối vụ chỉ được 6 – 7 lạng thóc, xay ra chỉ còn 5-6 lạng gạo. Họ ăn còn chưa đủ lấy đâu ra của để dành, để cho vay. Nếu có vay được gạo của họ thì cũng phải nhanh chóng trả bởi họ cũng chẳng có nhiều thóc dư thừa.

*
**

Cậu mình chuyển bữa ăn của các con lên bếp ăn tập thể của Phòng giáo dục cho các con đỡ vất vả củi lửa. Hồi đó kiếm được củi cũng khó khăn lắm. Ngày nông nhàn, người nông dân chẳng biết làm gì, nghề phụ không có, chỉ quen làm lúa trồng màu, họ cơm đùm cơm nắm lên núi Ba vì chặt cành cây, nhổ những cây dương xỉ… gánh về làm củi dự trữ. Anh em mình thì không được như thế vì còn phải đi học, nên chẳng có thời gian đi lên núi. Thỉnh thoảng, khi cậu mình lĩnh lương lại đưa cho anh Quang một ít tiền ra chợ Trôi, chợ Phùng, chợ Sấu giá mua củi. Củi mua được cũng chẳng đủ để đun nấu, chiều chiều mình vác cái bao tải ra đầu làng quét lá phi lao về đun. Hàng phi lao đó giờ đây không còn nữa, cái ao đầu làng to tướng đằng sau hàng phi lao xưa rộng mênh mông giờ chỉ còn là cái vũng nước thối um vì nước thải.

*
**
Chẳng hiểu sao, cậu mình tiêu chuẩn một tháng 17-18 kg gạo, hai anh em mình cộng lại một tháng cũng 30 cân. Vị chi là gần 50 cân gạo cho ba người. Nộp hết tem gạo cho nhà bếp cộng tiền than củi, tiền đong gạo, rau thịt. Vậy mà vẫn đói, còn đói hơn ăn riêng. Có người bảo các bà nhà bếp ăn bớt bằng cách nấu cơm sao cho được thật nhiều cháy rồi sau đó lấy cháy cho lợn của các bà ấy ăn. Người thì bảo có ai giám sát đâu mà họ chẳng ăn bớt.
Cậu mình thương con đang tuổi ăn tuổi lớn mà đói thì tội lắm lại cho các con về nấu lấy, ăn riêng. Bữa cơm nào cũng thế, anh Quang ăn vội vàng hai bát cơm rồi đứng dậy vỗ vào cái bụng lép kẹp rồi nói: No quá, no quá. Vậy là mình cứ ăn, bé có biết gì đâu, ăn lưng lửng bụng rồi mình đứng dậy. Anh Quang dọn mâm, nhìn vào nồi thấy còn chút cơm cháy, anh bảo: – A, vẫn còn cơm à, để đấy anh ăn nốt. Sau đó vài lần, mình hiểu ra rằng anh nói dối rằng mình no quá là để phần chỗ cơm đang còn trong nồi cho bố và cho em, nếu còn thừa thì anh mới ăn. Sau này khi anh Quang chết ở Quảng trị hồi 73, cậu mình mới nói: – Khổ cho thằng Quang hai mươi năm cuộc đời có lẽ nó chưa bao giờ được ăn một bữa cơm no thì phải, lúc nào nó cũng nhường nhịn cho người khác.

*
**
Hồi 68, thấy ông giáo vất vả với bà con trong xã quá, mang tiếng là có vợ nhưng lại luôn rơi vào cảnh gà trống nuôi con, vợ con phải chia ra làm ba bốn nơi để tránh, để chạy bom Mỹ. Thấy vậy, chính quyền xã cấp cho thày Hiệu trưởng ba sào đất ruộng để thày tăng gia. Thấy cha con ông giáo lúng túng trong việc làm đất, gieo hạt, trồng rau, bà con lại xúm tay vào đỡ đần cuốc cuốc, đập đập.
Thế là chiều chiều mình và anh Quang đi lấy nước tiểu rồi gánh hai cái ang sứt ra ao đầu làng múc nước hòa cho loãng để tưới rau. Đi đâu mà gần nhà, nếu mót đái mình cũng cố chạy về nhà để đái vào ang vỡ cho khỏi phí chỗ nước tiểu. Đi học về, thấy có bãi cứt trâu chưa có người cắm cái que lên đó là mình phấn khởi lắm. Cắm vội một cành cây nhỏ lên bãi cứt trâu, mình chạy về nhà cất túi sách rồi cầm cái mo cau cùng cái cời bằng xương sườn bò ra hớt chỗ cứt trâu về.
Nhìn những củ su hào từ từ lớn lên trong bàn tay chăm sóc của mấy bố con mình, trong lòng mừng vui phấn khởi khôn tả vì chỉ vì vài ngày nữa thôi là nhà mình sẽ có thêm bát canh su hào ngọt lịm không cần phải cho thêm Mỳ chính.

Cũng từ cái khó khăn gian khổ đó mà mình lại biết nấu cơm khi mới 10 tuổi. Một hôm cậu mình đi dạy học chưa về, anh Quang không hiểu tại sao hôm đó lại về muộn thế. Thằng Dương 4 tuổi con trai bà chị cả, chẳng nhớ tại sao hôm đó nó lại ở đó cùng ông ngoại và các cậu. Đến gần trưa thấy nó khóc, mình nghĩ chắc nó đói. Vào bếp lục nồi cơm xem còn gì để cho nó ăn không. Khốn khổ thân nó, đến cơm nguội cũng chẳng còn. Cậu ngồi dỗ cho cháu nín, làm đủ trò để cho nó quên đi cái đói, nỗi nhớ mẹ. Nhưng nó đói quá cứ khóc, càng dỗ nó càng khóc. Bất lực và thương cháu, thế là mình ngồi khóc cùng với nó. Khóc ti tỉ được bao nhiêu lâu mình chẳng nhớ, chỉ nhớ là chị chủ nhà đi làm đồng về thấy hai cậu cháu đang ôm nhau thi khóc. Chị bảo nó đói quá đấy thôi. Thương tình chị cho mình vay gạo rồi dạy cách nấu cơm bằng rơm.
Đến bây giờ mỗi lần vào bếp nấu cơm là hình ảnh lần đầu tiên nấu được nồi cơm cứ hiện ra trước mắt mình.

*
**
Anh Chí, chủ nhà mình ở nhờ, ngày đó ở vùng nông thôn chỉ có khái niệm ở nhờ chứ không có khái niệm ở trọ như người thành phố. Đã ngoài 20 tuổi từ lâu rồi nhưng anh không phải đi bộ đội như những thanh niên trong làng. Trong làng hồi đó người trẻ ít lắm, 17-18 tuổi là con trai đã lên đường nhập ngũ. Thanh niên nữ ở lại làng nhưng cũng ít vì con gái hồi đó cũng được đi bộ đội, không vào bộ đội thì đi thanh niên xung phong, đi dân công. Ở làng còn lại chỉ rặt người già, phụ nữ và trẻ con, những người nam giới còn trẻ ở lại làng thì toàn những người tàn tật hay Thương binh vừa mới ở mặt trận về.
Các chị thanh niên 18- 20 có chồng đi vắng hoặc có người yêu đi bộ đội thì nhiều. Đi xem phim xem kịch ở ngoài sân kho sân đình, mình toàn bị các chị chọc hai cái đầu Xu chiêng nhọn hoắt cứng nhắc vào vai vào lưng làm mình ngứa như bị cái rằm đâm. Khó chịu vô cùng.

*
**

Anh Chí không phải đi bộ đội vì mắt anh bị toét. Người làng thường gọi anh bằng cái tên Chí Toét để phân biệt với ông Trí mắt không bị toét nhà ở đầu làng. Lúc nào đó mình nhìn anh là mình nhìn thấy cục gỉ mắt bằng hạt gạo ở khóe mắt. Đôi mí to của mắt còn lộ rõ nếp xưa, giờ mí đã cụp xuống ửng đỏ, chính điều đó làm cho đôi mắt của anh lúc nào cũng hấp háy, nheo nheo. Nhớ đến anh là mình nhớ đến đôi mắt luôn luôn ướt nhèm, đỏ quạch. Anh Quang thường đùa bảo là anh Chí có đôi mắt Mơ Huyền, nghe thì tưởng ai có đôi mắt đó là đôi mắt đẹp luôn luôn mơ màng nhưng hiểu lệch đi đôi mắt ấy lại là đôi mắt Mờ.
Có thể vì lẽ đó nên anh Chí không phải đi bộ đội. cũng có thể vì thế nên cho dù anh là người trai tráng nhất làng nhưng đã gần 30 tuổi, anh Chí vẫn chưa có vợ.
Bố anh Chí, cụ Hưng có mỗi anh là con trai nên sốt ruột lắm. Năm nào cũng giục giã anh lấy vợ. Người làng mai mối cho anh đủ các đám, họ đến rồi đi nhưng chẳng hiểu sao mãi đến khi mình chuyển đi nơi khác, anh Chí vẫn chưa lấy được ai làm vợ.
Anh Chí vẫn thường đùa với bọn mình.
“ Mắt toét là tại hướng đình
Cả làng toét mắt chứ mình tao đâu”
Anh nói vậy thôi chứ hồi đó mình thấy trong làng cũng có mấy người đau mắt thâm niên nhưng chẳng thấy ai toét thê thảm như anh.

*
**
Anh Chí mắt kém, đi lại khó khăn nhưng việc gì anh cũng làm. Bố anh làm nghề đóng cối thuê. Khắp vùng xa gần, cứ vào những ngày sắp sửa gặt hái là cụ Hưng lại đi, có khi đi mấy ngày mới về. Có thể do cái cối xay gạo nó nặng nên người ta thường mời các ông thợ đóng cối đến đóng tại nhà còn hơn việc phải di chuyển cái cối nặng gần tạ. Người đóng cối thường được khoản đãi rất hậu hĩnh. Cơm bưng nước rót, thịt cá đầy đủ, bữa cơm nào ông thợ đóng cối cũng được gia chủ mời ngồi riêng một mâm hoặc ngồi cùng với chủ nhà. Mâm cơm đầy ắp thức ăn, lại có thêm cút “Rượu ngang” nữa chứ.
Rượu ngang là loại rượu nấu lậu, hồi đó nhà nào có mấy cục men rượu thì cất kỹ như giấu hàng quốc cấm, nấu rượu thì toàn phải nấu đêm vì sợ cán bộ xã đi kiểm tra thấy mùi bỗng rượu là bỏ mẹ, rũ tù. Nấu xong, bã rượu trộn với bèo cho lợn ăn ngay. Nhiều hôm anh Chí cho lợn ăn vội để giấu tung tích của sự nấu rựơu lậu. Có hôm mình thấy mấy con lợn nhà anh Chí da đỏ au, nằm thở hổn hển như sắp chết. Hỏi anh, anh nói nhỏ bảo lợn nó say rượu đấy, đừng nói cho ai biết nhé.
Rượu cất xong thì cho vào vò chôn kỹ ngoài vườn, bờ ao.

*
**
Ăn cơm trưa xong, ông thợ đóng cối ngả mình xuống cái chõng tre làm một giấc. Khi ông ngủ, đàn bà trẻ con cứ gọi là im phăng phắc cấm có gây ồn ào để cho bác Phó Cối còn ngủ lấy sức.
Cụ Hưng có khi ở nhà cả tháng để đóng cối cho bà con trong làng. Những lúc không có ai thuê ông đóng cối, ông thường làm những việc linh tinh trong làng. Nhiều hôm mình thấy ông ngồi trên bậu cửa mặt buồn rười rượi chẳng nói năng gì, anh Quang mình bảo ông ấy nhớ vợ đấy.
Thấy cụ Hưng ngồi chẻ những đoạn tre già ra nhưng mảnh nhỏ, mình lại ngồi bên cạnh bảo bác để cháu thử làm được không. Làm thử cho vui thôi chứ mình chẻ tre cho cụ chỉ tổ làm hỏng, làm phí cả những đoạn tre đã cưa sẵn của cụ.
Khi đã nhồi đất vào cối đến đâu thì anh Chí lại giúp cụ Hưng đóng những mảnh tre vào cái khuôn tre đan hình cối. Cầm cái búa bằng gỗ, anh đóng hết mảnh tre này đến mảnh tre khác thoăn thoắt, thoăn thoắt. Tuy mắt kém nhưng mình thấy anh Chí chẳng gõ vào tay phát nào cả. Có lần mình bảo anh đưa cho cái búa gỗ để mình đóng thử xem có dễ không. Nhìn mình đóng búa gỗ anh ngứa mắt lắm, giằng lấy cái búa anh bảo mình: Mày làm cứ như mơn l…. trốc, phải mạnh như thế này này. Mình làm nhẹ như thế mà không hiểu tại sao vẫn tím cả mấy ngón tay.
Đóng cối ở nhà, nhưng anh Chí cùng cụ Hưng cũng tự thưởng cho mình một cút rượu và miếng thịt lợn luộc lòng đào.
Chăm chỉ, chịu khó như thế mà vẫn không có vợ. Đêm nào anh cũng ngủ cùng với mình. Nằm được một lúc là anh đã ngáy khò khò như tiếng kéo cưa xẻ gỗ. Mùi mồ hôi, mùi hôi nách tích tụ qua nhiều ngày của anh đến bây giờ mình vẫn nhớ không sao quên được.

*
**

Những ngày rỗi việc anh Chí lại cùng với mình đắp lại cái bờ tường hàng rào bằng đất. Anh dạy cho mình cách trộn đất với rơm rạ để làm tường, anh dạy cho mình cách băm đất, chọn đất để đóng cối. anh còn dạy mình cách đóng xôi oản. Chẳng có xôi mình làm oản bằng cơm, khi ăn thấy cũng lạ miệng, rồi tự mình ru mình rằng đang ăn xôi oản trên chùa. Anh dạy mình nhiều thứ lắm. Đổi lại mình thì nhắc anh khi nấu cám lợn anh nhớ cho thêm ít muối vào cám để cho lợn chóng lớn. Anh cũng nể mình cái chi tiết đó lắm, anh bảo sao chú ở thành phố lại biết cả chuyện nuôi lợn. Mình bảo là em đọc ở sách người ta dạy như thế.
Rủ rỉ, rù rì, đêm nào trước khi đi ngủ mình đều chuyện trò với anh, được một lúc thì anh ngủ đằng anh, mình ngủ đằng mình. Sáng ra đã thấy anh biến khỏi giường từ lúc nào. Lạ, rất lạ là muỗi nó chẳng đốt anh lại cứ nhè mình ra đốt. Anh bảo cái da của anh nó cứng như da trâu rồi muỗi chạm vòi vào là gãy vòi, nó sợ nên nó chọn chú để đốt.
*
**
Hôm gặp anh Chí sau 40 năm, anh đưa mình đi xem lại nền của nếp nhà xưa kia. Chỗ này là nơi ngày xưa là cái nền nhà em ở, đây là chỗ cái giường anh em mình nằm ngủ, chỗ này là chỗ kê cái giường ông giáo và chú Quang ngủ này, còn đây là cái ao xưa em hay ngồi đây khóc vì nhớ bà giáo….. Nhìn lại cái bờ ao chỗ cây ổi mình hay ngồi, chợt rưng rưng, nước mắt cứ ứa ra khi nhớ về mẹ.
Bao người từng sống trong ngôi nhà đã lần lượt ra đi: Ông cụ Hưng, anh Quang, bố mẹ mình. Rồi nhiều thế hệ lần lượt sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này.
Anh chỉ cho mình thằng con trai thứ hai của anh. Anh bảo đây là thằng thứ hai của anh, thằng lớn gần 40 tuổi, nó đang đi làm ngoài Hà nội cả tháng nay chưa về.
Vậy là cuối cùng thì anh Chí cũng có vợ, lại có hai thằng con trai. Thế là mừng cho anh, con trai con dâu của anh đã phối hợp đẻ cho anh mấy đứa cháu nội.
Từ nay mình phải gọi anh bằng Ông thôi, chả gì mình và anh đã lên chức Ông nội-Ông ngoại rồi chứ chả chơi à.

4/12/2010.

4 thoughts on “Người nhà quê. Phần 2. Anh Chí.

  1. em nghĩ ngày xưa an cơm k có thức ăn mà gạo k ngon nên dù ăn nhiều vẫn đói đó anh à.
    Em đọc cái chỗ” may quá ông chủ nhà vẫn chưa chết ” thấy anh VTN hóm thế!

    • “May quá ông chủ nhà vẫn chưa chết” nên mới có cái chuyện hóm hỉnh này chứ nhỉ. Ông Chí mà chết là hết chuyện. Hi hi.

      Có thể vì những điều như Hà Linh nói vì không có thức ăn nên cả nhà ăn 4 người ăn một bữa hết bay 1kg gạo, còn bây giờ có nhiều thức ăn ngon hơn nên một bữa 4 người chỉ hết có 250gr gạo.
      Cũng có thể vì luôn luôn đói cho nên ngày xưa có nhiều món ăn ngon hơn bây giờ.

Bình luận đã được đóng.