“Nhớ Mùa thu Hà nội “.

Nhớ Trịnh Công Sơn.

Nhanh quá, mới đó đã Mười năm.

Năm 2001 có nhiều nhạc sỹ,  ca sỹ ra đi. Vừa mới mười năm Lê Dung, hôm nay lại mười năm Trịnh Công sơn.

Xin gửi tới các bạn bài viết của nhà phê bình âm nhạc Nguyễn Thị Minh Châu, một người đã từng nhiều năm làm công tác lý luận, phê bình. Minh Châu trước đây đã từng có thời học Piano, sau đó học lý luận phê bình tại Liên xô cũ và làm công tác biểu diễn.

Cuộc đời đã tạo ra cho chị một bước ngoặt.

Hiện chị là người phụ trách trang Báo điện tử chính thức của Hội nhạc sỹ Việt nam.

http://vnmusic.com.vn/

Dưới đây là bài viết của chị nhân dịp  ngày Giỗ nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. [ VTN ].

Nguyễn Thị Minh Châu

KHÁT VỌNG HÒA BÌNH TỪ MỘT CON TIM YÊU THƯƠNG

Quả tim này dành cho lửa hồng
cho hòa bình
cho con người còn chờ đấu tranh[1].
(Trịnh Công Sơn)

“Bob Dylan Việt Nam” – chẳng vô cớ mà báo chí Mỹ từng nói vậy về Trịnh Công Sơn của những năm 60 – 70.

Thần tượng của tuổi trẻ miền Nam thuở ấy mang một hình hài xanh xao gầy gò, có lẽ do hậu quả uống thuốc xổ để thoát quân dịch, một vẻ ngoài dịu dàng nhỏ nhẹ với nụ cười hiền rất Huế và một trái tim nhân hậu, từ đấy cất lên những giai điệu buồn, giản đơn, đều đều tưởng như rất bình lặng, nhưng là để dồn nén vào lời ca mọi sự bất an và kịch tính trong nỗi đau phận người vận nước, trong nỗi khát khao khôn cùng một tương lai không hận thù, không bạo lực, không đạn bom.

Cùng thời với những huyền thoại Bob Dylan, Joan Baes…, bằng cây đàn guitare gỗ và những bài ca đầy tính tự sự, Trịnh Công Sơn cũng đã làm nên huyền thoại cho riêng mình trên xứ sở đầy thương tích. Không lên gân khô cứng, không tránh né ngại ngùng, con người hiền hòa nhạy cảm ấy nhìn thẳng vào bộ mặt lạnh lùng của chiến tranh để nhận lấy nỗi đau từ những em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi, những người già lo âu chờ cơn gió lặng, những người con gái đoản mệnh chưa một lần thấy quê hương thanh bình, những người mẹ da diết ru con ngủ mãi tuổi hai mươi[2].

Nhức nhối nhất trong thảm kịch chiến tranh là hình ảnh trẻ thơ và người mẹ. Trẻ con quên sống, từng đêm giật mình trong tiếng đại bác dội về. Hàng vạn tấn bom trút xuống, bao nhiêu em bé chẳng còn được lớn lên nữa, bao nhiêu vùng thịt xương tan nát có mẹ có em. Người mẹ – biểu tượng cho quê nghèo – nhọc nhằn với vết đạn đầy thân, xót xa những đứa con tuổi còn bơ vơ trong thế giới hằn thù. Gia tài của mẹ để lại cho con đáng giá chỉ còn bài học tiếng nói quê hương và màu da nước Việt mà mẹ cứ nhắc hoài mong con chớ quên[3].

Chiến tranh tàn phá tất cả, nhưng đã không hủy diệt được khát vọng yêu thương. Từ tình yêu hướng thiện, con người ta nhìn được cao hơn và xa hơn. Ngay trong đêm tối khôn cùng vẫn linh cảm về một ngày yên lành cho người Việt được khóc được cười bên nhau, vẫn mơ thấy một tương lai rất gần đi chung cuộc mừng từ Bắc vô Nam để nối vòng tay anh em lớn mãi cho hết sơn hà[4]. Bia đá cũng còn biết đau, sỏi đá cũng cần có nhau, cớ sao người ta lại chẳng thể ngồi kề bên nhau cho đam mê thay vào đổ nát quê hương[5]. Ước muốn tha thiết từ con tim yêu thương là đây:

Ai có nghe tiếng nói người Việt Nam
Chỉ mong hòa bình sau đêm tăm tối
Chờ mong một ngày tay nắm trong tay[6].

Con tim nhân ái còn nhắn nhủ: đừng mang gươm giáo vào đời, hãy gần nhau trong tiếng nói da vàng, hãy yêu nhau đi cho dù đêm súng đạn sáng mưa bom[7]. Phải chăng đó là cách phản chiến của kẻ yếm thế, chỉ chống chiến tranh chung chung “kiểu nghệ sĩ” né tránh phân định chính tà? Nhưng kẻ yếm thế liệu có đủ can đảm chất vấn xã hội mình đang sống: Anh chị này sao vui mừng làm người cúi xin? Sao còn ngồi sao im lìm ngủ hoài các anh?[8]. Người né tránh thời cuộc liệu có gánh lấy trách nhiệm công dân để cất tiếng hát trên đài phát thanh Sài gòn ngay thời khắc lịch sử ngày 30 tháng 4: Mặt đất bao la anh em ta về, gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng…[9]?

Đối mặt với chiến tranh không phải để hận thù, phản kháng chiến tranh không phải bằng trái tim căm hờn, mà cao hơn thế, khó hơn thế, người nghệ sĩ đứng trên mọi tranh chấp thắng thua, tị hiềm và thù hận để học lấy lòng độ lượng bao dung trong tình yêu giống nòi, tình thương đồng loại, tình bè bạn anh em.

Suốt một đời nơi “cõi tạm” trên trần thế này, Trịnh Công Sơn đã ca hát hết mình cho hai chữ yêu thương. Cũng vì yêu thương mà trong những ca khúc phản chiến, người nghệ sĩ luôn nguyện cầu cho trời đất yên vui, cho cuộc đời này không ai thù ghét ai.

Cho tôi xin tay mẹ nồng nàn
Cho tôi nghe chân trẻ rộn ràng
Cho quê hương giấc ngủ thật hiền
Rồi từ đó tôi yêu em[10].


[1] Hãy nói giùm tôi.

[2] Người già em bé, Ngày dài trên quê hương, Người con gái Việt Nam, Ngủ đi con.

[3] Đại bác ru đêm, Nhưng hôm nay, Ca dao mẹ, Gia tài của mẹ.

[4] Đêm bây giờ đêm mai, Tôi sẽ đi thăm, Nối vòng tay lớn.

[5] Diễm xưa, Cúi xuống thật gần.

[6] Hãy nói giùm tôi.

[7] Tự tình khúc, Tình ca của người mất trí, Hãy yêu nhau đi.

[8] Hãy nói giùm tôi.

[9] Nối vòng tay lớn.

[10] Xin cho t«i.

….

P/S . Qúy vị có thể xem thêm đoạn trích từ Tiểu Luận do  Nguyễn Thị Minh Châu viết  về Trịnh Công Sơn cách đây mười năm. 12/2011 .

Bài này đã được  in trong cuốn sách của Minh Châu viết về  chân dung 12 nhạc sĩ.

……

LỜI CA CỦA MỘT “NGƯỜI HÁT RONG”

(Trích tiểu luận Trịnh Công Sơn – cuộc đời và tác phẩm)

Nguyễn Thị Minh Châu

Trịnh Công Sơn – chỉ cần một cái tên, không kèm theo chức danh hay một lời chú giải nào cả, thì công chúng của hơn hai thập niên cuối thế kỉ XX, từ già đến trẻ, từ trí thức đến người lao động bình thường… hầu như ai cũng biết ông là ai.

Ông là ai? Giới văn nghệ sĩ thân ái gọi ông là: Người thơ ca (Văn Cao), Người tình lãng du của nhiều thế hệ (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Thiền sư du ca (Đỗ Minh Tuấn), Ông hoàng tình ca (Nguyễn Trọng Tạo), Nhạc sĩ nhân gian (Doãn Nho)…, và Thi sĩ của âm nhạc, hay Nhạc sĩ của thi ca. Còn ông trả lời theo cách riêng: “Tôi chỉ là tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo…”[1].

Chẳng phải vô cớ nhiều nhà thơ đã gọi Trịnh Công Sơn là thi sĩ. Lời ca trong nhiều bài hát của ông tách rời khỏi giai điệu vẫn đẹp như một bài thơ. Riêng điều đó đã cho thấy vị trí lời ca đặc biệt đến mức nào trong nhạc Trịnh.

Nổi lên trong nội dung lời ca của Trịnh Công Sơn là các chủ đề: tình yêu – quê hương – thân phận. Ranh giới giữa các chủ đề không phải lúc nào cũng phân định rõ ràng. Trong quê hương có Em, trong tình yêu Em có tình yêu xứ sở. Trong tình yêu cho riêng Em, cũng như trong tình yêu nhân thế luôn có Tôi, gắn liền với thân phận Tôi, thân phận một đời người, và đôi khi, thân phận một đất nước.

1. Thân phận

Ca khúc Trịnh Công Sơn độc đáo khác thường, trước hết là nhờ nhân vật “Tôi”. Cái Tôi xuyên suốt mọi chủ đề, và hình ảnh Tôi hiện lên trọn vẹn nhất trong những bài hát nói về thân phận, về kiếp luân hồi và giải thoát bản ngã.

Tôi là ai? Nhiều lần nhân vật Tôi ấy lặng lẽ nhìn lại mình. Phải trả giá bằng những năm tháng trẻ thơ đầy ảo tưởng, “ngày nay không còn bé” tôi mới “chợt nhìn ra tôi”, thấy tôi như chiếc bóng phai mờ, như vết mực nhòe, như hòn đá nặng “tình cờ rớt xuống mịt mùng”, và tôi cứ “trôi trong cuộc đời… không chờ ai”[2].

Trời cao đất rộng
Một mình tôi đi
Một mình tôi đi
Đời như vô tận
Một mình tôi về
Một mình tôi về với tôi
(Lặng lẽ nơi này)

Hết âm thầm gõ buồn gót chân hành hương bóng đổ một mình tôi, tôi lại khép cửa quỳ bên vết thương, nhốt mình trong căn gác đìu hiu, soi bóng mình giữa tường trắng lạnh câm, rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình mà thốt lên: “Ô hay mình vẫn cô liêu”![3].

Hiu quạnh, lạnh lùng, im vắng, tịch lặng, băng giá, xa lạ, xa vắng, lặng câm, hư vô, hun hút, lẻ loi, âm u, lạnh lẽo, bơ vơ, lạc loài… Bao nhiêu tính từ kiểu đó cứ chồng chéo, vây bủa lấy thân phận Tôi, đan kết thành một tấm lưới khổng lồ vô hình có tên là Cô đơn.

Nhiều người đã nói đến màu sắc của triết lí Phật giáo và triết học hiện sinh trong lời ca của Trịnh Công Sơn. Chẳng phải ông đã từng thú nhận: “Tôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình”[4] đó sao. Nhưng đây là “một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được như ca dao hoặc những lời ru con của mẹ”[5]. Chẳng phải ông đã cho rằng: “Hiện sinh chân chính đâu phải xấu”, và “bậc thượng thừa của hiện sinh chính là ông Phật”[6]. Nhưng hoàn toàn không phải kiểu hiện sinh sống gấp và phản kháng bằng nổi loạn đập phá, mà là “một sự phản kháng tiềm tàng trong suy nghĩ”, để được “sống bình tĩnh trong từng sát na”[7], thức tỉnh và ơn đời.

Một phát hiện của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, người bạn gần gũi từ nhỏ của Trịnh Công Sơn: nỗi đau phận người được nhà Phật gói lại trong bốn từ sinh – lão – bệnh – tử đều có mặt trong lời ca của Trịnh Công Sơn.

Đúng như vậy! Dù đó hoàn toàn là vô thức vì nhạc sĩ không phải “tín đồ” nghiên cứu đạo Phật, nhưng chẳng mấy khó khăn để lượm nhặt đủ bốn chữ của nhà Phật trong lời ca của “vị thiền sư” này. Chữ sinh ẩn náu trong “cây non trên núi đầu thai”, lẩn khuất trong “tiếng khóc cười của bào thai”[8]. Chữ sinh nằm trong hạt bụi “vươn hình hài lớn dậy”, cất lên “tiếng khóc ban đầu”, để báo “tin buồn mẹ cho mang nặng kiếp người”[9].

Vừa sinh ra, con người đã lập tức khởi đầu một quá trình lão hóa. “Từng tuổi xuân đã già”, để “chợt một chiều tóc trắng như vôi” và chấp nhận “có một bạc đầu tôi đi, tôi đi”[10]. Chữ lão chập chờn trên “lau trắng trong tay”, trên “tóc người dòng sông xưa ấy đã phai”[11]. Chữ lão được viết trên chiếc lá thu phai, trên mặt trăng đã già, trên cuộc đời đã phủ rêu phong.

Đời người là một nỗi đau triền miên, với những “cơn đau chưa dài” và những “cơn đau lên đầy”[12]. Những cơn đau dài, đau vùi ấy đã khắc sâu trăm vết thương sầu cho một con tim tật nguyền, một thân thể mệt nhoài, gối chân mê mỏi. Chữ bệnh như ám vào tấm “thân đau muốn nằm”, vào “từng chiều lên hấp hối”[13].

Dấu chấm cho một kiếp rong chơi trên cõi tạm là cái chết. Cái chết không khoác áo choàng đen, mang bộ mặt khủng bố bên lưỡi hái lạnh lùng. Với Trịnh Công Sơn, cái chết quen thuộc như một chốn trở về nghỉ ngơi sau chuyến đi hoang tạm bợ:

Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời
(Ở trọ)

Nhiều người nhận thấy Trịnh Công Sơn hay “nói dại miệng” về chuyện  “nằm xuống”. Cứ như thể biết trăm năm chỉ ở đậu ngàn năm, nên ông sốt ruột “còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây, còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này”[14].

Luôn quan tâm đến cái ngày “thân xác không còn”, chẳng phải vì chán sống, trái lại, ông “nghĩ đến cái chết nhiều là vì quá yêu cuộc sống”[15]. Mà cái chết lại rất gần gũi sự sống, ngay “trong xuân thì” ông đã thấy “bóng trăm năm” rồi[16]. Chữ tử cứ treo lơ lửng trong giấc ngủ, để giật mình tỉnh ra lại nói gở: “Thí dụ bây giờ tôi phải đi, tôi phải đi chia li cùng đời sống”[17]. Ông muốn nhìn nhận cái ngày về nơi cuối trời làm mây trôi đó một cách thanh thản, không sợ hãi, không ân hận. Cũng tự nhiên như “lá úa trên cao rụng đầy”, cái việc “cho trăm năm vào chết một ngày” được đón nhận bằng một thái độ bình thản “lòng không buồn mấy”, hệt như một giấc mơ “tôi thấy tôi qua đời” mà thôi[18].

Giải thoát khỏi nỗi sợ chết bằng cách chuẩn bị trước cho mình một cái chết nhẹ nhàng, không thắc mắc gì cả, “một cái chết như vậy cũng giống như cái sống”[19]. Để ý nghĩa sự sống vượt qua cột mốc của cái chết, để một đời người nối dài tới cõi hư vô, còn có cách gì hơn sống trọn vẹn cho hiện tại, sống với một tấm lòng. Đó chính là chữ tâm, chữ tình mà Trịnh Công Sơn muốn gửi lại cho đời, muốn “trao đến muôn loài chút tình tôi”[20].

Để đến với đời, trước hết phải biết lắng nghe. Tôi không chỉ lắng nghe tôi, nghe buồn vui trong mình, mà còn lặng nghe đất trời trở mình hú than, nghe tiếng muôn trùng, nghe im lặng của đêm ngày, của tình người, nghe đời nhấp nhô, nghe đời mênh mông[21].

Lắng nghe, cảm nhận, để hóa thân thành muôn loài: tôi tự biến mình thành lá cỏ hay nụ hồng, đốm lửa hay ngọn đèn, thác đổ hay mưa tan, con chim hay đứa trẻ[22]. Khát vọng được hòa đồng, được chia sẻ với đời đã biến “em là tôi và tôi cũng là em”[23], đã cứu rỗi tôi trong cơn tuyệt vọng. Dù cho thân phận là mong manh và sự sống là hữu hạn, tôi vẫn xin “tạ ơn người, tạ ơn đời, tạ ơn ai”[24].

Cái tôi càng hay triết lí sự đời trong những bài hát ở giai đoạn sau này. Những “lí sự” ấy vừa ngấm chất thiền, vừa quẩn quanh trong nhiều cái tiến thoái lưỡng nan[25], vừa rất giản đơn sau nhiều cái ngộ ra ở tuổi già, lại vừa mang nét ngộ nghĩnh bất ngờ của trẻ thơ.

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
(Một cõi đi về)

Biển sóng biển sóng đừng xô tôi
Ta xô biển lại sóng về đâu
(Sóng đừng xô tôi)

2. Quê hương

Thực ra quê hương cũng vẫn là thân phận và tình yêu, nhưng không của một người, mà mang tính bao quát hơn: tình yêu cho nhiều người và thân phận của nhiều người – cho quê hương và của quê hương.

Tình yêu quê hương chính là tình yêu đồng loại, tình yêu thiên nhiên, đất trời. Không chỉ là người tình của con người, Trịnh Công Sơn còn tự coi mình là một “người tình của thiên nhiên”[26].

Thiên nhiên gắn bó với từng buồn vui đời người. Trong cô đơn, Trịnh Công Sơn đâu chỉ có gọi em, ông còn mê mải gọi tên bốn mùa, gọi nắng, gọi mưa… Thiên nhiên bình đẳng với người trong sự sống. Nắng hờn ghen, rồi nắng chết trên sông dài[27]. Đồi núi thắp nắng đứng ngóng, cứ nghiêng nghiêng đợi chờ cho đến lúc người về để đồi núi reo ca[28]. Dòng sông chở hồn thương đau, chở ngày hấp hối, rồi dòng sông cũng qua đời[29]. Ông đã nghe gió tự tình, gió thở dài, đã thấy từng giọt sương nhỏ nhoi mà thu nổi vào mình hết cả mênh mông, đã cảm được nỗi đau của bia đá, để hiểu rằng sỏi đá cũng cần có nhau[30].

Một hiện tượng thiên nhiên được thầy phù thủy Trịnh Công Sơn thổi vào nhiều hồn người nhất, đó là mưa. Trong ca khúc Trịnh Công Sơn, mưa là một hình tượng sống, có màu sắc, có linh hồn. Mưa rớt trong lòng người, đem cả lòng người ra “cô đơn dệt hè phố” rồi “rưng rức khóc bên đường”[31]. Mưa thì thầm, lạnh lùng, lặng lẽ…, chỉ thưa tựa áo trời, mà có khi lại mang sức mạnh hủy diệt để nhận chìm cả ngàn năm trước và ngàn năm sau, khiến cho đất phải trở mình và đời hóa thành biển động[32].

Mưa rơi, mưa bay, mưa ru trong rất nhiều bài hát của Trịnh Công Sơn, vì mưa chính là một biểu tượng của Huế. Cùng với những hình ảnh dòng sông, thành cổ, lăng miếu, khói sương và những dáng gầy mong manh, mưa đã làm nên một không gian rất Huế, để khỏi cần nhắc đến Huế dù chỉ một lần, mà người nghe vẫn nhận ra chất Huế mặn mà trong Trịnh Công Sơn.

Trong những bài hát về chiến tranh, hình ảnh quê hương bị mất hết vẻ lung linh thơ mộng. Quê hương đắm chìm trong tiếng nổ: tiếng nổ nghe quen như câu dạo buồn, đại bác ầm ì đêm đêm thay tiếng ru của mẹ, người già co ro buồn nghe bom nổ, trẻ con quên lớn để từng đêm nghe ngóng[33]… Quê hương phủ một màu tang tóc: người con gái chưa từng hát ca dao một lần đã thành kẻ mất trí lên đồi cao hát trên những xác người[34], người mẹ mê sảng hò ơ ru con, đứa con đã ngủ vĩnh viễn trong tuổi đôi mươi.

Chiến tranh đem đến những câu chuyện ngụ ngôn lạnh lùng về “Người chết hai lần”[35]. Cái chết tự nhiên của một kiếp người không đáng sợ. Nhưng cái chết nhan nhản khắp mọi nơi trong chiến tranh sao mà hãi hùng và oan nghiệt đến thế: chết vội vàng, chết vô tình, chết lạnh lùng, chết nghẹn ngào, chết cong queo…[36].

Trong chiến tranh, tình yêu quê hương, tình yêu con người càng sâu nặng, khát khao hòa bình càng cháy bỏng. Từ trong đau thương mất mát, cái nhìn nhân bản của Trịnh Công Sơn đã vượt qua tất cả, thời gian, khoảng cách, hận thù…, để thấy một ngày tương lai người Việt gần nhau trong tiếng nói da vàng, cùng nhau đi khâu vá non sông, để mỗi con người đều được yêu được sống trọn vẹn một vòng Sinh Tử [37].

Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay
Ta đi vòng tay lớn mãi cho hết sơn hà…                                                                  (Nối vòng tay lớn)

3. Tình yêu

Bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình bằng tình khúc, Trịnh Công Sơn đã gặt hái nhiều thành công từ những bài hát về những mối tình không thành công, gần như đơn phương của mình. Như có lần ông đã thổ lộ: “Tôi chỉ có những mối tình lãng đãng, sương khói, hoàn toàn không có gì cụ thể”. Yêu thầm một mái tóc, một dáng hình, để khi từng mối tình khói mây ấy “bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”[38] thì cuối cùng ở lại chỉ còn một nỗi đau rất thật.

Bởi vậy, hình tượng người tình của Trịnh Công Sơn thật đẹp và buồn, thật mảnh mai và xanh xao: xanh mướt hồng nhan, gầy yếu hư hao, mình hạc xương mai, nụ cười mong manh, mướt xanh như ngọc[39]. Nếu thiên nhiên luôn mang tình người, thì người tình luôn được đối chiếu với vạn vật: đôi môi lửa cháy, mi cong cỏ mượt, tay xanh ngà ngọc, đôi vai lụa mát, da thơm quả ngọt, và: từng phiến mây hồng em mang trên vai, thân mong manh như lau sậy, như hoa lá giữa thiên nhiên hiền hòa[40]. Cứ thế, chân dung Em được vẽ bằng cả đất trời, bằng nắng gió mây mưa…

Nắng có hồng bằng đôi môi em
Mưa có buồn bằng đôi mắt em
Tóc em từng sợi nhỏ
Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh
Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi.
(Như cánh vạc bay)

Đôi vai thon, vai gầy, vai ướt, vai mềm… phải gánh cả không gian – “biển rộng hai vai”, cả thời gian – “chở chiều trên vai”, “một ngày trên vai”[41]. Em đi vào đời người, tình người bằng những gót nhỏ, gót hồng, bằng những bước chân nhè nhẹ, âm thầm, mềm mại.

Đã có tóc dài, tóc bồng, tóc xanh, tóc mây, tóc buông lơi… em còn là chủ sở hữu của làn “tóc gầy” và “tóc buồn”[42]. Em càng đẹp, buồn và hư ảo với những mắt biếc, mắt sâu, mắt xanh xao, mắt cười mênh mông, với những môi thơm, môi mềm, môi hồng đỏ, hồng đào, hồng vừa, hồng nhạt và hồng “như lá hư không”[43].

Hơn tất cả mọi vai – tóc – mắt – môi…, ấy là tay! Những ngón tay măng mềm, gầy, muốt dài, biết ưu phiền và nuối tiếc, biết ngóng đợi rồi lãng quên[44]. Tay em vừa hiền vừa ác, vừa xây vừa phá, “kết nụ nuôi trọn một đời” hay “dựng đời bão lên làm từng vết thương”[45] cũng từ một “tay em” mà ra.

Cho nên, em yếu mềm, dịu dàng thật đấy, mà “một ngày thấy em là đời bỗng đêm vây khốn, từng bước em là từng mũi đinh cuồng điên”[46]. Em chẳng an phận một chiều trong mắt Tôi, khiến Tôi “nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương, nhìn em thú dữ”[47].

Khắc khoải với Tình nhớ, Tình xa, Tình sầu, Trịnh Công Sơn đưa ra hàng loạt “định nghĩa” về tình bằng những hình ảnh so sánh rất Trịnh Công Sơn, thực thực – ảo ảo: tình vừa mong manh như nắng, lại có sức tàn phá như cơn bão đi qua địa cầu, tình lên cao vút như chim xa lìa bầy, rồi lại chìm mau như bóng chim cuối đèo[48].

Tình yêu của Trịnh Công Sơn, cũng giống như hình ảnh người con gái của lòng ông, đẹp và buồn. Một vẻ đẹp mong manh, dễ vỡ và một nỗi buồn lặng lẽ, rất đỗi dịu dàng. Thêm một khía cạnh nữa cho bức chân dung Tôi: rất chân thành, tận tụy và bao dung trong tình yêu. Một người đã từng vài lần ru đời, vừa rơi lệ ru người vừa ngậm ngùi tự ru, thì nhất định phải để dành nhiều lời ca nhất để ru tình, ru người tình[49]. Một người sẵn lòng làm tất cả, làm hạt mưa giọt sương hay cụm mây ngọn gió, làm cây đèn giọt mực hay giấc mộng nụ cười, cốt để được thấy em yêu đời[50].

Tôi xin làm quán trọ, buồn chân em ghé chơi
…Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài
(Biết đâu nguồn cội)

Ngay cả khi bị em phụ rẫy vẫn một mực “yêu em yêu thêm tình phụ, yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ”[51]. Dù em đã để lại một vết thương cho riêng một người, thì người ấy vẫn cứ dịu dàng mà “xin cho bốn mùa đất trời lặng gió, đường trần em đi hoa vàng mấy độ”[52].

Nhiều người phụ nữ đã đến rồi đi khỏi cuộc đời Trịnh Công Sơn, để lại trong ca khúc của ông hình tượng một Người tình mong manh sương khói. Nghe nói cũng từng một lần thử đưa chân vào cuộc hôn nhân gần như không có thực với nàng vũ nữ hoa khôi Sài Gòn giữa thập niên 60, song cho tới lúc nằm xuống, sau khi đã hiến trọn đời cho nghệ thuật, Trịnh Công Sơn vẫn là một kẻ độc thân, một đứa con trọn nghĩa tìm về bên mẹ, người phụ nữ mà ông sùng bái và yêu thương nhất. Mẹ, người mẹ của riêng ông cũng như Mẹ Việt Nam, “người dạy cho con tiếng nói quê hương” sẽ sống mãi trong Ca dao mẹ, trong Lời mẹ ru, và tình mẫu tử còn đượm mãi trong Huyền thoại mẹ, trong Đường xa vạn dặm.

Tấm lòng chân tình là một nét đẹp trong lời ca Trịnh Công Sơn. Cái đẹp còn được tạo bởi một yếu tố khác: chất thơ. Nếu trong chủ đề thân phận trĩu nặng tính triết lí, thì không đâu trong ca khúc Trịnh Công Sơn lại đậm đặc chất thơ như trong chủ đề tình yêu.

Chất thơ đầy ắp trong cảnh, trong tình. Nhờ con mắt thi sĩ – họa sĩ, Trịnh Công Sơn đã nắm bắt được những gam màu lạ lùng: màu mắt em “lung linh nắng thủy tinh vàng” và màu áo trắng “trong như ánh sao băng”[53], màu “chiều tím loang vỉa hè” và “vàng chiều ngơ ngác giăng lên nhịp cầu”[54], màu “thành phố mắt đêm đèn vàng” và “tiếng hát xanh xao của một buổi chiều”[55]… Ông đã thấy “chiều đã đi vào vườn mắt em… ngàn cây thắp nến lên hai hàng”[56], thấy em “chở chiều trên vai, ngậm buồn trên môi” và thấy người phu quét lá bên đường đã quét cả nắng vàng mùa thu, quét cả gió nồm mùa đông, quét cả nắng hồng mùa hạ để góp lá cho mùa xuân[57].

Trong mắt ông, bao nhiêu cảnh bình thường bỗng hóa ra khác thường, đầy biểu cảm:

Một chiều xa đã bay về gần
Rơi trên sông rơi sau bờ thành
Nhìn cỏ cây ráng pha màu hồng
Nhìn em áo lụa thinh không
Mặt trời như trái cây tuyệt vọng…
(Níu tay nghìn trùng)

Ôi áo xưa lồng lộng
Đã xô dạt trời chiều
Như từng cơn nước rộng
Xóa một ngày đìu hiu
(Tình nhớ)

Thương ai về ngõ tối
Bao nhiêu lá rơi rơi
Thương ai cười không nói
Ngập ngừng lá hôn vai
(Thương một người)

Trịnh Công Sơn tả tình, tả tâm trạng với cách riêng. Dân gian có “quen hơi bén tiếng”, Trịnh Công Sơn viết “thương áo quen hơi”, để lúc rời nhau “hồn mình như vá khâu”[58]. Ví tình như chiếc áo rồi, thì ngại gì mà không đem “treo tình trên chiếc đinh không, phơi tình cho nắng khô mau”[59]. Chẳng những  “lòng ta trăm con hạc gầy vút bay”, mà cả nụ cười cũng “vội cất cánh bay”[60].

Cách dùng từ, ghép từ độc đáo đã biến cái thực thành không thực, và ngược lại, cái trừu tượng, cái không thể sờ nắm được lại có cơ hội hiện hữu bằng chất liệu thật – thật mà rất thơ. Nắng trở nên lung linh, lấp lánh hơn khi được nương nhờ vào vật chất để thành “nắng thủy tinh”. Cách nói thông thường, kiểu như: sống quá nửa đời người, rõ ràng không ấn tượng bằng biến đời thành đá để có thể diễn tả như Trịnh Công Sơn: “Ta lăn đời đã quá”[61].

Không biết có phải vì muốn phá vỡ tính cân bằng, đối xứng, vì luôn cảm nhận được sự chông chênh trong lòng, bấp bênh trong đời và bất định trong tình, nên ông thích xoay nghiêng nhiều thứ: nghiêng tay, nghiêng vai, nghiêng đầu, nghiêng sầu, nghiêng tình… rồi hỏi: “Này nhân gian có nghe đời nghiêng?”[62].

Sức tưởng tượng bay bổng được kết hợp với tính linh hoạt trong cách sử dụng ngôn từ đã làm cho lời ca của Trịnh Công Sơn “chẳng giống ai”, đẹp, lạ, và đôi khi ngữ nghĩa cứ chờn vờn, không dễ nắm bắt. Vẻ mơ hồ, trừu tượng ấy góp phần không nhỏ làm nên nét độc đáo trong ca từ của ông. Ông đưa ra nhiều cụm từ thật ấn tượng: vết lăn trầm, vòng tiều tụy, bờ mộng mị, vùng ăn năn… Đôi chỗ tính từ đại diện luôn cho danh từ vắng mặt, càng tăng thêm vẻ bí ẩn, “vô thường” cho đối tượng được ám chỉ: yêu dấu tan theo, nghe những tàn phai, ôm lấy mịt mùng, cười với âm u[63]. Sự bí ẩn còn tạo bởi cách diễn đạt cầu kì: “Xin vỗ tay cho đều, môi người thôi những âm ba”[64], và những hình ảnh “kinh dị”: loài sâu ngủ quên trong tóc chiều, rồi lại hát lên khúc ca cuối cùng trong vùng u tối nào đó, đến nửa đêm thì quên hết ưu phiền “để người về hát đêm hồng địa đàng còn in dấu chân quên”[65].

Sự bí ẩn nhiều khi chỉ để cảm nhận, chứ không thể, hay không cần giải mã cụ thể, cặn kẽ. Dù không phải tất cả lời ca đều dễ hiểu với bất cứ ai, vậy mà người ta vẫn cứ nghe, vẫn cứ cảm, vẫn mê say ca khúc Trịnh Công Sơn. Với ông, thế là đủ, bởi điều quan trọng nhất trong nghệ thuật là “làm thế nào để mở ra một con đường ngắn nhất đi từ trái tim của mình đến trái tim của người mà không cần cắt nghĩa gì thêm”[66].

Người nghe thường nói nhạc và thơ của Trịnh Công Sơn “quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ”[67], lời ấy nhất định phải đi với nhạc ấy, chứ khó mà hình dung nổi nó lại được hát lên bằng một giai điệu nào khác. Còn Trịnh Công Sơn từng nói: “Ca khúc là một cuộc hôn phối kì diệu giữa thi ca và âm nhạc”[68]. Lời ca của ông đã kết duyên với những giai điệu đẹp mà đơn giản, dễ thuộc và dễ trình bày, chỉ cần một cây đàn guitare thùng đệm theo. Có lẽ không còn phong cách giai điệu nào thích hợp hơn thế cho những “bài thơ – ca từ” đầy chất tự sự, tâm tình của ông.

Nhiều giọng ca đẹp đã hát Trịnh Công Sơn, nhưng nhiều người vẫn cho rằng chẳng ai hát nhạc Trịnh hay bằng chính ông tự hát. Cũng dễ hiểu, bởi ca khúc của ông để bày tỏ hơn là để khoe giọng, mà chưa ai thấu hiểu lời ca đầy thân phận để hát tự đáy lòng như ông. Sẽ chẳng quá nếu nói rằng lời ca vừa “thiền” vừa thơ đã góp phần quyết định để làm nên một tên tuổi Trịnh Công Sơn.

Bằng lời ca độc đáo, đầy chất thơ và tính nhân bản, bằng nét nhạc trữ tình mềm mại, không cầu kì, vừa gần gũi với tai người Việt, vừa có cái duyên riêng, ca khúc Trịnh Công Sơn rất dễ thấm đọng vào lòng người. Người nghe không chỉ thưởng thức, mà đôi khi còn cảm thấy như chính lòng mình đang được hát lên, và những cảm xúc trong cõi riêng của mình đang được giãi bày… Trịnh Công Sơn đã và sẽ còn nói hộ cho nhiều người, nhiều thế hệ. Đúng như linh cảm của ông: “Tôi mất đi, nhưng tiếng hát còn ở lại. Ở lại như một chứng tích vừa buồn bã vừa huy hoàng của một cõi người”, và “đó là một cuộc rong chơi ngậm ngùi của hữu hạn muốn chộp bắt cái vô hạn làm món quà thế chấp cho đời mình”[69].

12-2001


[1]Trịnh Công Sơn: lời tựa trong tập ca khúc Bên đời hiu quạnh. Hội Âm nhạc TP. HCM, 1993.

[2] Ngày nay không còn bé, Ru ta ngậm ngùi.

[3] Hành hương trên đồi cao, Một ngày như mọi ngày, Đêm thấy ta là thác đổ, Ru ta ngậm ngùi, Lời buồn thánh.

[4] Trịnh Công Sơn: Để bắt đầu một hồi ức. Thế giới âm nhạc, 1/1997.

[5] Vừa dẫn.

[6] Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về. Sđd. Tr. 211.

[7] Vừa dẫn.

[8] Như tiếng thở dài, Nghe tiếng muôn trùng.

[9] Cát bụi, Lời mẹ ru, Gọi tên bốn mùa.

[10] Phôi pha, Cát bụi, Có một ngày như thế.

[11] Chiếc lá thu phai, Có một dòng sông đã qua đời.

[12] Tình nhớ.

[13] Tưởng rằng đã quên,  Một ngày như mọi ngày.

[14] Phúc âm buồn.

[15] Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về. Sđd. Tr. 209.

[16] Gần như niềm tuyệt vọng.

[17] Rơi lệ ru người.

[18] Cát bụi, Bên đời quạnh hiu.

[19] Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về. Sđd. Tr. 208.

[20] Như tiếng thở dài.

[21] Tình xa, Nguyệt ca, Hôm nay tôi nghe, Nhìn những mùa thu đi, Còn có bao ngày, Nghe tiếng muôn trùng, Tôi đang nghe.

[22] Đêm thấy ta là thác đổ, Tự tình khúc, Biết đâu cội nguồn, Như con chim  ưu phiền…

[23] Tôi ơi đừng tuyệt vọng.

[24] Tạ ơn.

[25] Tiến thoái lưỡng nan.

[26] Trịnh Công Sơn: Nhạc và đời. NXB Tổng hợp Hậu Giang, 1989.

[27] Như cánh vạc bay, Hạ trắng.

[28] Em hãy ngđi, Biển nhớ, Người về bỗng  nhớ.

[29] Vàng phai trước ngõ, Em đi trong chiều, Có một dòng sông qua đời.

[30]Nghe tiếng muôn trùng, Bốn mùa thay lá, Diễm xưa.

[31]Những giọt mưa khuya.

[32]Chìm dưới cơn mưa, Nghe tiếng muôn trùng, Diễm xưa.

[33]Đại bác ru đêm, Người già em bé.

[34]Người con gái Việt Nam da vàng,

[35] Ngụ ngôn mùa đông.

[36] Tình ca người mất trí.

[37] Đi tìm quê hương, Tình ca người mất trí.

[38] Tình nhớ.

[39] Góp lá mùa xuân, Ru em, Đóa hoa vô thường, Hoa xuân ca.

[40] Em hãy ngủ đi, Tuổi đá buồn, Níu tay nghìn trùng, Em đến từ nghìn xưa.

[41] Lặng lẽ nơi này, Em đi trong chiều, Tình xót xa vừa.

[42] Yêu dấu tàn theo, Ru em từng ngón xuân nồng.

[43] Gần như niềm tuyệt vọng.

[44] Nắng thủy tinh, Nhìn những mùa thu đi, Biển nhớ.

[45] Ru em từng ngón xuân nồng, Tưởng rằng đã quên.

[46] Tưởng rằng đã quên.

[47] Con mắt còn lại.

[48] Tình sầu, Tình nhớ.

[49] Ru đời đã mất, Ru đời đi nhé, Rơi lệ ru người, Ru ta ngậm ngùi, Ru tình, Ru em, Ru em từng ngón xuân nồng, Tôi ru em ngủ.

[50] Vì tôi cần thấy em yêu đời.

[51] Ru em.

[52] Hoa vàng mấy độ.

[53] Nắng thủy tinh,  Thương một người.

[54] Nhìn những mùa thu đi,  Bến sông.

[55] Biển nhớ, Lời buồn thánh.

[56] Em còn nhớ  hay em đã quên, Nắng thủy tinh.

[57] Em đi trong chiều, Góp lá mùa xuân.

[58] Tình sầu.

[59] Tình xót xa vừa.

[60] Hãy cứ vui như mọi ngày, Một lần thoáng có.

[61] Tình xót xa vừa.

[62] Có nghe đời nghiêng.

[63] Yêu dấu tan theo, Nghe những tàn phai, Tình xót xa vừa, Những con mắt trần gian.

[64] Xin vỗ tay cho đều.

[65] Dấu chân địa đàng.

[66] Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về. Sđd. Tr. 205.

[67] Văn Cao: Lời bạt cho Tuyển tập Những bài ca không năm tháng. NXB Âm nhạc, 1995.

[68] Trịnh Công Sơn.

[69] Trịnh Công Sơn: Tình yêu và tiếng hát. Tạp chí Thế giới âm nhạc, 1966.

./.

Một trích đoạn của bài này mới được đăng trên Trang báo điện tử của Hội nhạc sỹ Việt nam.

http://vnmusic.com.vn/p666-loi-ca-cua-mot-nguoi-hat-rong.html

78 thoughts on ““Nhớ Mùa thu Hà nội “.

  1. Anh Bob Dylan tối nay biểu diễn ở Factory bar 11A Bảo Khánh. Em ko bít bác VTN, chị MC, Bác tata, Bác MH thích anh này nên ko thông báo. À mà quán này là của HS Quảng Hà cũng học MTCN bác tata ạ!

    • Lần sau báo sớm cho bà con nhờ ts@ nhé. Báo thế này chẳng khác nào: Em sẽ giới thiệu cho các anh một con bé cực xinh, cực ngoan, chân cực dài….đã có chồng.
      Rõ ghét.

      • Lúc em thông báo, thực ra các bác vẫn có thể gặp đc anh Bob nếu nhà gần và đạp xe nhanh như bác VTN. Em nghe câu chiện: Đại loại, có bác người Úc bảo, trong chiến tranh VN, Anh Bob hát những bài phàn chiến để giúp VN…có công với VN lắm. Anh bạn em nói vui: Nếu ko có anh Bob thì bi giờ VN ko thân Tầu thế này! Anh Bob chỉ cười trừ….

  2. Trịnh Công Sơn, hi hi, chịu không biết viết thế nào. Đơn giản vì ông tài quá, nổi tiếng quá. Cái tài lại kéo dài mới kinh. Sau 75 ông vẫn sáng tác đều, và vẫn hay.
    Những bài ngày xưa như Hạ Trắng, Biển Nhớ, Diễm xưa thì thôi rồi. Nhưng tôi nể ông cả những bài sau này như Huyền thoại Mẹ, Nhớ MTHN, đặc biệt là nhớ MTHN.
    Tôi ngạc nhiên, TCS chủ yếu gắn bó với Miền Trung và SG, ông chỉ đảo qua HN mà ra một bài hay quá là hay, lẩy ra được những nét rất độc đáo, rất HN như bài Nhớ MTHN. Quá tài, quá tài.

    • Bí thư lọ mọ đi đâu mà còm khuya thế. Vậy mà lần nào rủ bí thư đi uống cà phê buổi tối cũng nói anh đang “kẹt”

      • Quần chúng CÚN, nội dung này nên đưa sang nhắn tin GMS nhá. Hoặc để hôm nào họp góp ý đ/v nhá nhá!
        Thôi, mời BT quả caffe sáng đi!

      • Cún. Quan trọng là chọn đúng thời điểm. Lão Bí lúc nào cũng bận, gặp nhau lần nào cũng Rựơu.
        Một làn đạn đã bỏ mẹ con nhà người ta rồi. Đằng này lão bị ” Kẹt” giữa ba bốn làn đạn.

    • Có một bài mình thích sau cùng trong những ca khúc của ông . Bài này được TCS sáng tác vào những năm cuối của cuộc đời.
      ” Đóa hoa vô thường.”

      • Bài này anh TCS viết năm 69 đấy VTN ạ, lúc này SGN ép anh ấy phải hát cho chương trình gì đó kiểu như tâm lý chiến, chàng chán quá lảng lảng viết một loạt bài trong đó có 4 đoạn của một “tổng phổ” Đóa hoa vô thường.
        Ra đời cùng với nhiều bài khác lạ như : “sống trong đời sống…”

    • “ông chỉ đảo qua HN mà ra một bài hay quá là hay”
      Rất đúng, nhưng chỉ thế thôi bí thư ơi!!!

    • Bài hát này rất hợp với những người già. Nhưng người già thì không hát được. Chỉ lẩm nhẩm
      “Chiều một mình ra phố, ông già nhớ nhớ quên quên.”

  3. cứ 10 iem chân dài thi hoa hậu thì 9 iem trả lời phỏng vấn : Em muốn làm doanh nhân, thích điện ảnh thời trang và…yêu nhạc Trịnh.Cho dù cách trả lời ấy là vẹt, sáo rỗng đi chăng nữa thì vẫn chứng tỏ 1 điều : Nhạc TCS có tính phổ cập rất rộng lớn. Đố VTN và mọi người tìm được 1 ca sĩ ở Vn từ hạng “thượng đẳng điền” như cái gọi là Diva đến những ca sĩ “Hát lót” dám không “lụy” nhạc TCS.
    Giai cú không phải là “Tín đồ” của nhạc TCS, chỉ thích độ vài bài “kinh điển ” như Hạ trắng ..Diễm xưa thôi, chứ nghe nhiều thấy nó cũng khó vô.. Năm 78 gì đó, khi Giai cú mới giải ngũ…lật phật đi tìm công ăn việc làm.Có người giới thiệu vô mần tạm tại triển lãm giáo dục Liên xô ( tổ chức ở trường Trưng Vương bây chừ).Giai cú thấy trong đống giáo cụ trực quan mang từ nác Nga la tư tới , có 1 cái đàn Piano, hàng ngày có 1 ông chừng hơn 50 tuổi hay đàn hát tập luyện với các cháu quàng khăn đỏ, có lẽ chuẩn bị cho dịp ..chào mừng chi đó. Lạ lắm khi không có người quản lí ở đó, rứa là cha ấy đệm và hát bài…mưa vẫn mưa bay..và đặc biệt hơn nữa mấy bé nhi đồng thối tai thoắt cái “hiện nguyên hình” là những ca sĩ của chế độ bên kia .Bằng chứng là vẫn khăn đỏ, váy áo đồng phục, đứa vịn tay, đứa tựa vô đàn hát theo rất say sưa.Tiếng nhạc, tiếng hát cứ lung linh quyện chặt vô nhau, tràn ngập căn phòng..ở ngoài là tiếng ve ran, phượng đỏ lập lòe.Hồi nớ giai cú cứ té ngửa người vì ngạc nhiên ( mới ở lính về) vì ngay giữa thủ đô CHXHCN mà các em bé tí ti đã biết và hát cái bải….”phản động ủy mị ” ni….Sau ni mới biết đó là bài Diễm xưa ạ.

  4. Anh Giai cú. Có những bài hát xưa cấm sau lại cho hát. Quần loe, tóc dài, mũ lưỡi dài sau chả cấm nữa thì chả có ai mặc nữa. Hay nhỉ.

  5. Mình thuộc loại nghiện TCS, nhất là thời TCS-KL trong phong trào du ca, phản chiến. MINH CHÂU viết về TCS khá hay, vì rất khó viết hay hơn, riêng có một ý mà mình chưa thấy mấy ai chú ý là nhạc của ảnh có một thời kỳ động viên thanh niên sinh viên học sinh nhập thế bởi tính lạc quan hăng say và hết lòng tin tưởng tương lai, như ‘Rạng đông trên quê hương VN’; ‘Chính chúng ta phải nói hòa bình’,…
    Mùa Noel năm 71 ở Saigon có một “hiện tượng” rất rầm rộ: thanh niên đua nhau một cái mốt quái gỡ áo đỏ cờ với quần bố trắng, và bất kỳ quán xá nào cũng mở nhạc Trịnh, mà cứ lặp lại bài “ta đã thấy gì trong đêm nay”. Nghe nói bên CSQG truy tìm lý do, tìm gốc tích sự kiện không ra. Có thể nói đó là hiệu quả của phong trào du ca phản chiến, lan tràn trong TN SV HS Sài gòn.

    • Hóa ra là bác cũng hoạt động trong Phong trào Thanh niên Sinh viên miền Nam xuống đường chống chiến tranh cùng chị Kim Ngân à.
      Em cứ tưởng bác từ nhỏ chỉ chuyên về lĩnh vực Sinh Vât.
      [ Sinh Vật. Được viết tắt bởi hai chữ ….. gì thì bác tự hiểu ].

      he he.
      Chúc bác khỏe vui vẻ ngày Chủ nhật.

    • Lần thứ mấy không quan trọng. Miễn là họ sống với nhau được lâu lâu một chút. Bí thở ạ.
      Mình có thằng bạn, thằng này hay lắm.
      ” Thỉnh thoảng nó lại lấy vợ.”
      Còn cô bạn của mình cũng khoái lấy chồng.
      ” Lâu lâu lại cưới một thằng chồng cho đỡ buồn.”
      he he.
      Chủ nhật vui vẻ.

      • Thế 2 người bạn của lão đã giật được cái giải chàng “tốn vợ” với cô “tốn chống” chưa hở VTN?

      • VTN trả lời câu ni hay thiệt đó…”Miễn họ sống với nhau được lâu lâu một chút”.Đúng VTN là nghệ sĩ “gộc”, nghệ sĩ “xịn” rùi vì VTN đã nói 1 câu rất “vu vơ” mà nó toát lên được cái “căn cốt” của giới mần Văn nghệ văn gừng rùi . Ước chi giai cú cũng có tí máu nghệ sĩ để được lấy vài lần….vợ

        • Anh Giai cú. Anh khen cái câu vu vơ của em làm cứ gọi là mê mẩn cả người.
          Cái truyện em viết ở trển là viết về một nghệ sỹ đấy.
          Chả phải ai cũng thế đâu anh ạ. Nhiều khi là do hoàn cảnh xô đẩy, mà cái máu Nghệ sỹ nổi lên thì chả có gì ràng buộc được họ.
          Thích là : OK. GIẢI TÁN CON GIÁN.

  6. Kính gửi nhà LLPBÂN Thị Minh Châu (hi vọng là bác í cũng vô đây buôn chuyến)!
    Bác MC làm ơn lí giải cho đám dân lớp dưới chúng em làm sao thưởng thức được âm nhạc qua tiếng hát của ca sĩ Tuấn Ngọc.
    Khi anh í biểu diễn tại VN thì rất đông khán giả nhưng kinh nghiệm bản thân nhà em thì cứ mỗi dịp tụ tập hát ka mừng nọ mừng kia thì cứ đến bài của anh í là 99, 99% tua đi luôn.
    Chả nhẽ giọng ca TN không phù hợp với những phu xe, ca ve, ở nhà tre… như chúng em?
    Cảm ơn bố đã cho mượn đất

    • Hát, hát nữa, hát mãi…..phát, phát mãi.. rồi thành ca sĩ mà… Xinh cứ chịu khó xem Pari by Nichgt mà xem, cái kĩ nghệ quảng cáo kiểu nác đường của họ giỏi lắm.Âm thanh ánh sáng…đèn lến nung ninh, sắc màu nẫn nộn cộng với những thứ khác mà bình sinh Xinh hay dùng để đắm đò mà cơ thể cứ nổi lềnh bềnh, không chìm ấy mà.TN về VN biểu diễn , coi như thêm yếu tố lạ “Việt kiều quay lạiyêu nác” nên báo chí nác mẹ cũng dành phần ưu ái.

Bình luận đã được đóng.